ÂM KIỀU MẠCH KÈM HUYỆT TRỊ CHỨNG

Thứ tư - 16/09/2026 22:39
Huyệt CHIẾU HẢI thuộc kinh Thận
Cách chủ trị: Chủ bệnh tạng phủ. Tương ứng chủ khách với LIỆT KHUYẾT.
Trị bệnh ( Tây giang nguyệt): Hầu tắc, tiểu tiện lậu tắc, Bàng quang khí đau, sôi ruột, da vàng, rượu tích ở bụng và rốn. Nôn, ỉa chảy, phiền vị phân rắn. Khó đẻ, hôn mê, tích có hòn, hạch khí xâm lấn. Châm CHIẾU HẢI có ứng nghiệm ngay.
Phàm chữa các chứng sau đây, trước lấy huyệt CHIẾU HẢI làm chủ, thứ mới lấy các huyệt ứng với nó:
  1. Tiểu tiện lậu tắc không thông: Âm lăng tuyền, Tam âm giao, Quan xung, Hợp cốc.
  2. Bụng dưới lạnh đau, tiểu tiện dục nhiều lần: Khí hải, Quan nguyên, Thận du, Tam âm giao.
  3. Bẩy thứ sán ở bàng quang, chứng bôn đồn (vần chảy trong bụng): Đại đôn, Lan môn, Đan điền, Tam âm giao, Dũng tuyền, Chương môn.
  4. Thiên trụy ( sa bùi dái), thủy thũng, sưng to như cái đấu: Đại đôn, Khúc tuyền, Nhiên cốc, Tam âm giao, Quy lai, Lan môn, Bàng quang du, Thận du ( nếp ngang có thể cứu 7 mồi).
  5. Nhũ huyền sán khí, khi đau có thể xung lên ngực: Đới mạch, Dũng tuyền, Thái khê, Đại đôn.
  6. Tiểu tiện lậu buốt, máu ra không dứt, đau lỗ đái ( âm khí): Âm cốc, Dũng tuyền, Thái khê, Đại đôn.
  7. Di tinh, bạch trọc, đái nhiều lần: Quan nguyên, Bạch hoàn du, Thái khê, Tam âm giao.
  8. Đêm mê giao hợp với quỷ, di tinh không cầm: Cao hoang, Tâm du, Nhiên cốc, Thận du.
  9. Đàn bà khó đẻ, con ôm tim mẹ, không thể đẻ ra, nhau thai không xuống: Cự khuyết, Hợp cốc, Tam âm giao, Chí âm ( cứu có hiệu).
  10. Con gái đại tiện không thông: Thân mạch, Âm lăng tuyền, Tam âm giao, Thái khê.
  11. Đàn bà sau khi đẻ đau ở bụng, rốn, nước hôi ( ác lộ) không dứt: Thủy phân, Quan nguyên, Cao hoang, Tam lý.
  12. Đàn bà tỳ khí, Huyết cổ, Thủy cổ, Khí cổ, Thạch cổ: Chiên trung, Thủy phân ( trị thủy), Quan nguyên, Khí hải, Túc tam lý, Hành gian ( trị huyết), Công tôn ( trị khí), Nội đình ( trị thạch), Chi câu, Tam âm giao.
  13. Đàn bà huyết phần bụng mỏng ( đơn), khí xuyễn: Hạ quản, Chiên trung, Khí hải, Tam lý, Hành gian.
  14. Đàn bà huyết khí mệt mỏi ( lao quyện), ngũ tâm phiền nhiệt, chi thể đều đau, đầu mắt tối tăm( hôn trầm): Bách hội, Cao hoang, Khúc trì, Thận du, Hợp cốc, Tuyệt cốt.
  15. Người già hư tổn, chân tay chuyển gân ( chuột rút) không thể cử động: Thừa sơn, Dương lăng tuyền, Lâm khấp, Thái xung, Xích trạch, Hợp cốc.
  16. Quặn bụng, thổ tả, tay chân chuột rút: Kinh cốt, Tam lý, Thừa sơn, Khúc trì, Uyển cốt, Xích trạch, Dương lăng tuyền.
  17. Hàn thấp, cước khí, phát nhiệt đau to: Thái xung, Ủy trung, Tam âm giao.
  18. Thận hư, cước khí, sưng đỏ, sốt không lui: Khí xung, Thái khê, Công tôn, Tam âm giao, Huyết hải, Ủy trung.
  19. Can cước khí, đầu gối, mắt cá trong và trăm ngón chân đau đớn: Tất quan, Côn lôn, Tuyệt cốt, Ủy trung, Dương lăng tuyền, Tam âm giao.
  20. Khắp người trướng đầy, phù thũng sinh nước: Khí hải, Tam lý, Khúc trì, Hợp cốc, Nội đình, Hành gian, Tam âm giao.
  21. Ngực bụng cổ trướng, khí suyễn, không thở được: Chiên trung, Khí hải, Thủy phân, Tam lý, Hành gian, Tam âm giao.
  22. Bụng trên trướng to như chậu: Trung quản, Chiên trung, Thủy phân, Tam âm giao.
  23. Tứ chi, mặt, mắt phù to không lui: Nhân trung, Hợp cốc, Tam lý, Lâm khấp, Khúc trì, Tam âm giao.
  24. Đàn bà hư tổn, mình gầy, khí hư trắng, đỏ: Đại chùy, Thận du, Quan guyên, Tam âm giao.
  25. Đàn bà dạ con lạnh lẽo, không thể có chửa: Trung cực, Tam âm giao, Tử cung.
  26. Đàn bà bị đau giữa lúc hành kinh, bị váng đầu, đau bụng dưới: Dương giao, Nội đình, Hợp cốc.
  27. Gái chưa chồng kinh nguyệt không đều, bụng rốn đau đớn: Thận du, Tam âm giao, Quan nguyên.
  28. Đàn bà đẻ khó, không đẻ được: Hợp cốc, Tam âm giao, Độc âm.
  29. Hai thứ khí cổ, huyết cổ ( lưỡng cổ): Thủy phân, Công tôn, Khí hải, Lâm khấp.
  30. Ngũ tâm phiền nhiệt: Nội quan, Dũng tuyền, Thập tuyên, Đại lăng, Hợp cốc, Tứ hoa.
  31. Khí công, đau lên ngực: Thông lý, Đại đôn.
  32. Trong tim thổn thức: Tâm du, Nội quan, Thần môn.
  33. Hầu họng bế tắc: Thiếu thương, Phong trì, Chiếu hải.
  34. Hư dương tự thoát: Tâm du, Nhiên cốc, Thận du, Trung cực, Tam âm giao.
Bát pháp trên, trước hết châm huyệt chính theo chứng chung, rồi tùy theo chỗ có bệnh ở trên dưới, phải, trái mà lấy các huyệt ứng khác. Nhưng theo phép môn địa dẫn ( sở đường kinh dẫn khí), và phép ấn để khử trừ, nếu bệnh chưa khỏi, tất cần hợp huyệt, cần phải đình 1 kim ( lưu kim), trì khí, là cho trên dưới tiếp cho nhau, nhanh chóng thấy mất đau đớn, sau đó mới rút kim, hoặc dùng ngải cứu cũng được, tùy từng lúc mà cơ biến, không thể câu nệ riêng ở châm.
( Châm cứu Đại thành, Dương Kế Châu- Lê Văn Sửu dịch)
 

Nguồn tin: Đông y HC tổng hợp.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây