ĐỐC MẠCH KÈM HUYỆT TRỊ CHỨNG

Chủ nhật - 13/09/2026 07:41
Huyệt HẬU KHÊ thuộc kinh Tiểu trường
Cách châm: Sâu 1 thốn. Chủ bệnh ở đầu, mặt, gáy, cổ, tương ứng chủ- khách với Thân mạch
Chủ trị ( Tây giang nguyệt): Tay, chân co run rẩy, trúng gió không nói, giản điên, đau đầu, sưng mắt, nước mắt chảy thành dòng, đùi gối, bả vai, thắt lưng đau lệch, gáy cứng, thương hàn không giải, răng lợi, quai hàm, hầu họng sưng, tay tê, chân tê, phá thương co rút ( khiên) và mồ hôi trộm thì trước hết châm HẬU KHÊ.
Phàm chữa các chứng dưới đây, trước hết tất phải lấy HẬU KHÊ là chủ, thứ mới lấy các huyệt ứng với nó:
  1. Chân tay co quắp, duỗi khó khăn: Túc tam lý, Khúc trì, Xích trạch, Hợp cốc, Hành gian, Dương lăng tuyền.
  2. Cổ gáy cứng đau, không thể ngoái quay: Thừa tương, Phong trì, Phong phủ.
  3. Hai bên quai hàm sưng đỏ, đau: Đại nghinh, Giáp xa, Hợp cốc.
  4. Hầu họng bế tắc, cơm, nước không xuống: Thiên đột, Thương dương, Chiếu hải, Thập tuyên.
  5. Song nga phong, hầu bí bất thông: Thiếu thương, Kim tân, Ngọc dịch, Thập tuyên.
  6. Đau dọc nửa đầu và 2 góc trán: Liệt khuyết, Hợp cốc, Mạch tím thái dương, Đầu lâm khấp, Ty trúc không.
  7. Hai gò mi đau không dứt: Tán trúc, Dương bạch, Ấn đường, Hợp cốc, Đầu duy.
  8. Đầu mắt mờ mệt ( hôn trầm), đau thái dương: Hợp cốc, Mạch tím thái dương, Đầu duy.
  9. Đầu gáy đều đau, dẫn lên vai, bả vai đau: Thừa tương, Bách hội, Kiên tỉnh, Trung chữ.
  10. Túy đầu phong, nôn mửa không dứt, sợ nghe tiếng người: Dũng tuyền, Liệt khuyết, Bách lao, Hợp cốc.
  11. Mắt sưng đỏ, ra gió nước mắt chảy không dứt: Tán trúc, Hợp cốc, Tiểu cốt không, Lâm khấp.
  12. Uốn ván, nhân việc gì mà phát co, toàn thân phát sốt: Đại đôn, Hợp cốc, Hành gian, Thập tuyên, Mạch tím thái dương trích máu.
  13. Ho hắng hàn đàm: Liệt khuyết, Dũng tuyền, Thân mạch, Phế du, Thiên đột, Ty trúc không.
  14. Đầu mắt quay cuồng, chóng váng: Phong trì, Mệnh môn, Hợp cốc.
  15. Đầu gáy cứng đơ: Thừa tương, Phong phủ, Phong trì, Hợp cốc.
  16. Răng lợi đau đớn: Liệt khuyết, Nhân trung, Giáp xa, Lư ty ( Thái khê), Thái uyên, Hợp cốc.
  17. Tai không nghe tiếng: Thính hội, Thương dương, Thiếu xung, Trung xung.
  18. Chứng phá thương phong ( phong đòn ghánh): Thừa tương, Hợp cốc, Bát tà, Hậu khê, Ngoại quan, Tứ quan.
Bát pháp trên, trước hết châm huyệt chính theo chứng chung, rồi tùy theo chỗ có bệnh ở trên dưới, phải, trái mà lấy các huyệt ứng khác. Nhưng theo phép môn địa dẫn ( sở đường kinh dẫn khí), và phép ấn để khử trừ, nếu bệnh chưa khỏi, tất cần hợp huyệt, cần phải đình 1 kim ( lưu kim), trì khí, là cho trên dưới tiếp cho nhau, nhanh chóng thấy mất đau đớn, sau đó mới rút kim, hoặc dùng ngải cứu cũng được, tùy từng lúc mà cơ biến, không thể câu nệ riêng ở châm.
( Châm cứu Đại thành, Dương Kế Châu- Lê Văn Sửu dịch)
 

Nguồn tin: Đông y HC tổng hợp

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây