ÂM DUY MẠCH KÈM HUYỆT TRỊ CHỨNG
Đào Xuân Vũ
2026-09-13T07:39:56-04:00
2026-09-13T07:39:56-04:00
https://dongyhc.vn/nukeviet/vi/dong-y-hc/du-huyet/am-duy-mach-kem-huyet-tri-chung-1304.html
/nukeviet/themes/default/images/no_image.gif
Thuoc dong y
https://dongyhc.vn/nukeviet/uploads/logohc3-2.jpg
Chủ nhật - 13/09/2026 07:39
Huyệt NỘI QUAN thuộc kinh Tâm bào
Cách châm: Sâu 1 thốn 2 phân. Chủ bệnh tâm, đảm, tỳ, vị - chủ khách tương ứng với 2 huyệt Công tôn.
Chữa bệnh (Tây giang nguyệt): Ở trong tức, tim ngực bì chướng, ruột sôi, ỉa chảy, lòi dom, ăn không xuống, có cục tích rắn nằm ngang dưới sườn. Đàn bà đau sườn, đau tim, kết ở trong ngực không chịu nổi, thương hàn không giải kết trong ngực, tật sốt rét NỘI QUAN thường sử dụng.
Phàm trị các chứng dưới đây tất trước hết lấy NỘI QUAN làm chính, thứ mới lấy đến các huyệt ứng với nó:
- Tức ở trong không sướng, dạ dày bị thương lạnh: Trung quản, Đại lăng, Túc tam lý, Ủy trung.
- Trung tiêu bĩ tức, thúc đau 2 sườn: Chi câu, Chương môn, Chiên trung.
- Tỳ vị hư hàn, nôn mửa không dứt: Nội đình, Trung quản, Khí hải, Công tôn.
- Đau dưới sườn, ngực bụng đau nhói: Khí hải, Hành gian, Dương lăng tuyền.
- Hòn cục không tan, trong tim đau buồn: Đại lăng, Trung quản, Tam âm giao.
- Chứng ăn không tán, người dần gầy mòn: Uyển cốt, Tỳ du, Công tôn.
- Tích thực huyết hòn, trong bụng đau ấn: Vị du, Hành gian, Khí hải.
- Ngũ tích cục, huyết tích, huyết tịch: Cách du, Can du, Đại đôn, Chiếu hải.
- Tạng phủ hư lãnh, đau đớn 2 sườn: Chi câu, Thông lý, Chương môn, Dương lăng tuyền.
- Phong tỏa, khí trệ, bụng ngực nhói đau: Phong môn, Chiên trung, Lao cung, Túc tam lý.
- Đại trường hư lãnh, thoát giang không co về: Bách hội, Mệnh môn, Trường cường, Thừa sơn/ Chiếu hải, Bách hội, Chi câu.
- Tạng độc thũng đau, ỉa ra máu không dứt: Thừa sơn, Can du, Cách du, Trường cường.
- Năm thứ tật trĩ, công đau không khỏi: Hợp dương, Trường cường, Thừa sơn.
- Năm thứ chứng giản, trong miệng sùi bọt: Hậu khê, Thần môn, Tâm du, Quỷ nhỡn.
- Tâm tính ngu dại, buồn tủi không khỏi: Thông lý, Hậu khê, Thần môn, Đại chung.
- Tâm hoảng phát cuồng, không nhận thân thuộc: Thiếu xung, Tâm du, Trung quản, Thập tuyên.
- Hay quên, dễ mất, nói năng không nhớ: Tâm du, Thông lý, Thái xung.
- Tâm khí hư tổn, hoặc hát, hoặc cười: Linh đạo, Tâm du, Thông lý.
- Trong lòng hồi hộp, nói năng nhầm lẫn: Thiếu hải, Thiếu phủ, Tâm du, Hậu khê.
- Trong lòng hư thích( lo xa cẩn thận), thần tư ( ý nghĩ) không yên: Nhũ căn, Thông lý, Đảm du, Tâm du.
- Tâm kinh( sợ) trúng gió, bất tỉnh nhân sự: Trung xung, Bách hội, Đại đôn.
- Tâm hư, đảm hàn, tứ chi run rẩy: Đảm du, Thông lý, Lâm khấp.
Bát pháp trên, trước hết châm huyệt chính theo chứng chung, rồi tùy theo chỗ có bệnh ở trên dưới, phải, trái mà lấy các huyệt ứng khác. Nhưng theo phép môn địa dẫn ( sở đường kinh dẫn khí), và phép ấn để khử trừ, nếu bệnh chưa khỏi, tất cần hợp huyệt, cần phải đình 1 kim ( lưu kim), trì khí, là cho trên dưới tiếp cho nhau, nhanh chóng thấy mất đau đớn, sau đó mới rút kim, hoặc dùng ngải cứu cũng được, tùy từng lúc mà cơ biến, không thể câu nệ riêng ở châm.
( Châm cứu Đại thành, Dương Kế Châu- Lê Văn Sửu dịch)
Nguồn tin: Đông y HC tổng hợp