XUNG MẠCH KÈM HUYỆT TRỊ CHỨNG
Đào Xuân Vũ
2026-09-13T07:38:01-04:00
2026-09-13T07:38:01-04:00
https://dongyhc.vn/nukeviet/vi/dong-y-hc/du-huyet/xung-mach-kem-huyet-tri-chung-1303.html
/nukeviet/themes/default/images/no_image.gif
Thuoc dong y
https://dongyhc.vn/nukeviet/uploads/logohc3-2.jpg
Chủ nhật - 13/09/2026 07:38
Huyệt CÔNG TÔN thuộc kinh Tỳ
Cách châm: Châm sâu 1 thốn. Chủ trị bệnh ở 5 tạng trong ngực bụng, tương ứng chủ khách với Nội quan.
Chữa bệnh (Tây giang nguyệt): Chín chứng đau tim, buồn bằn kéo dài, kết ngực, phiên vị khó đình, tích tụ cơm rượu, bụng chướng dạ sôi, thủy thực khí thực và bệnh cách, bụng rốn đau đớn, sườn chướng, trường phong, sốt rét, đau tim, nhau không ra, huyết mê tâm, ỉa chảy, huyệt CÔNG TÔN có ứng nghiệm ngay.
Phàm trị các chứng sau đây, trước lấy huyệt CÔNG TÔN làm chủ, thứ mới lấy các huyệt ứng theo:
- Chín loại đau tim; tất cả các khí lạnh: Đại lăng, Trung quản, Ẩn bạch.
- Đàm cách buồn bằn liên miên, đau ẩn trong ngực: Lao cung, Chiên trung, Giản sử.
- Khí cách 5 thứ nghẹn ( ế cách), ăn uống không xuống: Chiên trung, Túc tam lý, Thái bạch.
- Bụng, rốn chướng tức, ăn không tiêu: Thiên khu, Thủy phân, Nội đình.
- Dưới sườn đau đớn, ngồi đứng khó khăn: Chi câu, Chương môn, Dương lăng tuyền.
- Ỉa chảy không dứt, lý cấp hậu trọng ( bụng đau gấp, mót rặn): Hạ quản, Thiên khu, Chiếu hải.
- Trong ngực đau đớn như có gì đâm: Nội quan, Đại lăng, Hoặc trung.
- Hai sườn trướng tức, khí công đau đớn: Tuyệt cốt, Chương môn, Dương lăng tuyền.
- Trong tức, không vui, phiền vị, ăn thì nôn: Trung quản, Thái bạch, Trung khôi.
- Vị quản đình đàm, miệng nôn nước trong: Cự khuyết, Trung quản, Lệ đoài.
- Vị quản đình thức ăn, đau nhói không dứt: Trung quản, Túc tam lý, Giải khê.
- Nôn mửa đờm dãi, choáng váng không dứt: Chiên trung, Trung khôi, Phong long.
- Tâm ngược( sốt rét), trong tim suy nhược( chinh xung): Thần môn, Tâm du, Bách lao.
- Tỳ ngược ( sốt rét), sợ lạnh, đau bụng: Thương khâu, Tỳ du, Túc tam lý.
- Vị ngược ( sốt rét), ác hàn, sợ kinh hãi, nằm ngủ không yên: Lâm khấp, Đảm du, Kỳ môn
- Can ngược ( sốt rét), khí sắc biến hóa, rét dữ rồi phát nóng: Trung phong, Can du, Tuyệt cốt.
- Phế ngược ( sốt rét), ngực lạnh, sợ sự kinh hãi: Liệt khuyết, Phế du, Hợp cốc.
- Thận ngược ( sốt rét), người rét từ từ, cột sống và thắt lưng cứng đau: Đại chung, Thận du, Thân mạch.
- Sốt rét nóng to, không lui: Giản sử, Đại chùy, Tuyệt cốt.
- Sốt rét cơn, trước lạnh, sau nóng: Hậu khê, Khúc trì, Lao cung.
- Sốt rét cơn, trước nóng, sau lạnh: Khúc trì, Bách lao, Tuyệt cốt.
- Sốt rét cơn, tim, ngực đau đớn: Nội quan, Thượng quản, Đại lăng.
- Sốt rét cơn, đau đầu, choáng váng, nôn ra đờm không dứt: Hợp cốc, Trung quản, Liệt khuyết.
- Sốt rét cơn, khớp xương đau đớn: Phách hộ, Bách lao, Nhiên cốc.
- Sốt rét cơn, miệng khát không ngừng: Quan xung, Nhân trung, Giản sử.
- Hoàng đản ( vàng da), tứ chi đều thũng, mồ hôi ra thấm áo: Bách lao, Chí dương, Trung quản, Túc tam lý, Uyển cốt.
- Hoàng đản, nửa mình, mặt, mắt, nước tiểu đều vàng: Tỳ du, Ẩn bạch, Bách lao, Chí dương, Tam lý, Uyển cốt.
- Cốc đảm, ăn ngon thì tim choáng váng, họng trên uất nhẹ, nửa người phát vàng: Vị du, Nội đình, Chí dương, Túc tam lý, Uyển cốt, Âm cốc.
- Tửu đảm, mình, mắt đều vàng, đau trong tim, mặt nổi ban đỏ, nước đái đỏ, vàng: Đởm du, Chí dương, Ủy trung, Uyển cốt.
- Nữ lao đảm, thân mắt đều vàng, phát nhiệt, các hàn, tiểu tiện khó: Quan nguyên, Thận du, Chí dương, Nhiên cốc.
- Kinh nguyệt không đều: Quan nguyên, Khí hải, Thiên khu, Tam âm giao.
- Trong ngực đau tức: Lao cung, Thông lý, Đại lăng, Chiên trung.
- Đàm nhiệt kết trong ngực: Liệt khuyết, Đại lăng, Dũng tuyền.
- Phong đau tứ chi: Khúc trì, Phong thị, Ngoại quan, Dương lăng tuyền, Tam âm giao, Thủ tam lý.
- Hầu họng bế tắc: Thiếu thương, Phong trì, Chiếu hải, Giáp xa.
Bát pháp trên, trước hết châm huyệt chính theo chứng chung, rồi tùy theo chỗ có bệnh ở trên dưới, phải, trái mà lấy các huyệt ứng khác. Nhưng theo phép môn địa dẫn ( sở đường kinh dẫn khí), và phép ấn để khử trừ, nếu bệnh chưa khỏi, tất cần hợp huyệt, cần phải đình 1 kim ( lưu kim), trì khí, là cho trên dưới tiếp cho nhau, nhanh chóng thấy mất đau đớn, sau đó mới rút kim, hoặc dùng ngải cứu cũng được, tùy từng lúc mà cơ biến, không thể câu nệ riêng ở châm.
( Châm cứu Đại thành, Dương Kế Châu- Lê Văn Sửu dịch)
Nguồn tin: Đông y HC tổng hợp