( Hình 1: Châm để trị bệnh trong Đông y; Hình 2: Cắm, phi, xiên kim, điện kim,…không phải Đông y; Hình 3: Xuyên kim trong nghi thức tôn giáo).
Thoạt nhìn, thấy cùng hiện tượng châm kim vào cơ thể, khiến người ta dễ liên tưởng tới châm theo kiểu Đông y, nhưng khi đi sâu phân tích sẽ thấy bản chất, mục tiêu, yêu cầu kỹ thuật, quy trình thực hiện và hiệu quả hoàn toàn khác nhau. Xin khái lược để người được châm chọn, dùng sao cho đúng.
I. “CHÂM" ĐỂ TRỊ BỆNH TRONG ĐÔNG Y:
“Nội kinh nói : Nhất châm, nhì cứu, tam uống thuốc… thì đủ biết sự hiệu dụng của châm cứu là dường nào?... 13 Y thuật nhất là châm …phương pháp chữa bệnh không gì mau lẹ hơn châm cứu”.
“ KHÔNG LÀM HẠI THÊM NGƯỜI BỆNH là nguyên lý tối quan trọng của ngành y ở bất cứ thời kỳ nào, đất nước nào, kể cả y học hiện đại và y học cổ truyền". Trong Đông y, đặc biệt với phương pháp châm để trị bệnh, nguyên lý này được thể hiện qua các phép tắc trong tất cả các công đoạn buộc người châm phải tuân thủ tuyệt đối, ví như:
-Châm để trị bệnh, trước tiên người châm phải “ lấy được huyệt”. Mỗi huyệt muốn “ lấy được” lại đòi hỏi người bệnh phải ở một tư thế nhất định. Tư thế, mốc giới cơ thể cùng “thốn đồng thân” của từng người bệnh là cơ sở để xác định chính xác vị trí huyệt vị.
( Nếu với cùng một tư thế mà người bệnh bị châm quá nhiều huyệt, hoặc người châm mới chỉ nhìn hay sờ qua đã vội châm kim …phải cảnh giác vì người châm rất dễ vi phạm nguyên tắc trên).
-Kim được chọn dùng trong châm trị bệnh của Đông y phải là loại kim có đường kính bé nhất có thể, dẻo nhất có thể mới đảm bảo ít tổn thương nhất khi xâm lấn cơ thể. Người xưa thường dùng miệng ngậm cán kim trước khi châm, kim ấm khi châm sẽ bớt đau và giảm "tà khí" theo thân kim xâm hại người bệnh.
-“Trong khi châm kim, trước lấy móng ngón tay cái bên trái bấm mạnh vào trên huyệt, làm cho khí lạnh tan đi. Kế lấy tay phải cầm kim, nhè nhẹ, từ từ đâm vào”. “Phép châm kim, quý hồ chậm, nếu quá nhanh sẽ làm tổn thương huyết. Khi lấy kim ra, quý ở hoãn, quá gấp sẽ làm tổn thương khí, chính là châm không làm tổn thương Vinh Vệ”.
( Nếu nhìn người châm: Búng kim, dúi kim, phi kim hay xiên kim … thủ thuật đó vừa vi phạm nguyên tắc này, vừa thể hiện sự thiếu tự tin của những kẻ luyện chưa TỚI mà đã vội THỂ HIỆN)
- Tiếp đến là tiến kim tới độ sâu cho phép, nâng ấn nhẹ nhàng, vi chỉnh để đảm bảo mũi kim chính xác huyệt vị cần châm, “ kim để vừa chừng bằng hột đậu”. “Nguyên tắc của châm chữa bệnh, nhất thiết phải châm trúng huyệt”, “ Khi châm sâu quá sẽ tổn hại ngũ tạng ở trong; Khi châm nông quá thời không đạt tới chỗ có bệnh, trở lại làm cho khí huyết bề ngoài bị nhiễu loạn mà sinh úng trệ, do chỗ úng trệ lại tạo cho bệnh tà thừa cơ xâm nhập. Cho nên châm sâu châm nông mà không noi theo pháp độ là có nguy hại rất lớn, làm cho rối loạn công năng bình thường của ngũ tạng mà sinh bệnh tật”.
( Nếu thấy kim chỉ được châm vào vùng tọạ độ có chứa huyệt vị…Cách châm này không phải châm để trị bệnh trong Đông y).
-Châm để trị bệnh đòi hỏi người châm phải được đào tạo bài bản và huấn luyện công phu. Phải luyện bằng được đôi bàn tay có được "LINH GIÁC" ( ĐÔI TAY ẤM - MỀM; ĐỘNG TÁC NHẸ NHÀNG – DỨT KHOÁT; THỦ THUẬT TINH TẾ - CHỈN CHU) mới thực hiện được thủ pháp BỔ - TẢ trên huyệt vị. Bổ hay Tả là 2 kỹ thuật trọng yếu trong châm để trị bệnh, hiệu dụng trái chiều của nó luôn được các sách kinh điển của Đông y cảnh báo để nhắc nhở người châm thật thận trọng, như “ cùng huyệt Hợp cốc, khi châm tả thì có tác dụng an thai, khi châm bổ thì lại làm hạ thai”.
( Nếu gặp người châm có bàn tay THÔ - CỨNG - LẠNH hoặc đeo găng sẽ không được phép cầm kim châm trị bệnh trong Đông y; hay loại người cầm kim 2 ngón chỉ vê vê, xoay xoay chỉ là những kẻ mới bắt đầu tập, không được phép châm trị bệnh).
-Ngoài kỹ thuật châm trên từng huyệt vị, kinh điển Đông y còn cho phép sử dụng các kỹ thuật khác ở tầm trị bệnh trên nguyên tắc: “CỨU THEO MỒI, HƠ THEO PHÚT, LƯU KIM THEO HƠI THỞ”...
( Nếu vi phạm những nguyên tắc này…Cái đó nhất định không phải Đông y!)
Châm cứu Giáp Ất kinh, Quyển thượng, trang 457 chỉ rõ:"Nguyên tắc châm chích chữa bệnh, nhất thiết phải châm đúng huyệt. Nếu châm đúng huyệt vị, thì có thể xuất hiện cảm giác đắc khí, đồng thời loại cảm giác này dọc theo đường đi nhất định của kinh truyền dẫn lan rộng, hệt như người đi du hành ở đường hẻm…Khi chữa bệnh tật lúc nên bổ nhưng lại tả, hoặc cần tả nhưng lại bổ, có thể gây cho bệnh tình thêm nặng. Đó là đều do lúc châm chích không phân tích tỉ mỉ, suy cứu thịnh suy về hư thực của bệnh tật, chữa nhầm hoặc chữa ngược lại đều gây ra hậu quả xấu".
II. “CHÂM" NHƯ PHƯƠNG TIỆN DẪN ĐƯA CÁC CHẤT VÀO CƠ THỂ TRONG MỘT SỐ CHUYÊN KHOA :
-"Điện châm": Dùng kim làm cực để dẫn truyền dòng điện vào cơ thể trong chuyên khoa " Điện trị liệu".
-"Thủy châm": Dùng kim tiêm làm phương tiện để đưa dịch thuốc vào vị trí nhất định trên cơ thể.
-"Chôn chỉ": Dùng kim chuyên dụng, đưa dị vật (chỉ tự tiêu...) vào trị trí đã định trên cơ thể...
Về bản chất các kỹ thuật này là của Tây y. Khi dùng phải do các bác sỹ chuyên khoa chỉ định và chịu trách nhiệm về tính khoa học và bằng chứng y khoa. Việc đặt thêm một tên mới rồi đưa các kỹ thuật này vào HUYỆT ĐẠO, coi đó là hiện đại hóa Đông y thì thật là nguy hại ... Bởi khi đó nó vừa xung đột, vừa vi phạm các quy tắc, các nguyên lý cơ bản trong CHÂM để trị bệnh trong hệ thống lý luận và thực hành của Đông y ... rủi do tiềm ẩn mà người bệnh gặp phải thật khó lường...; lại vừa vi phạm nguyên lý tối quan trọng của ngành y từ ngàn đời : " KHÔNG LÀM HẠI THÊM NGƯỜI BỆNH" - Cần nghiêm túc xem lại !
III. “CHÂM" NHƯ PHƯƠNG TIỆN THỰC HÀNH MỘT SỐ NGHI THỨC TÔN GIÁO:
Nguồn :
1. Nội Kinh Tố Vấn – LY Nguyễn Tử Siêu dịch
2. Châm cứu Giáp Ất Kinh- Hoàng Phủ Mật- Lê Quý Ngưu, Lương Tú Vân dịch
3. Châm cứu Đại Thành- Dương Kế Châu -LY Phạm Tấn Khoa dịch
4. Du huyệt học – LY Lê Văn Sửu tổng hợp, dịch
5. Từ sinh lý đến dưỡng sinh- BS Nguyễn Khắc Viện
6. Điều trị điện trên huyệt- Lã Quang Nhiếp, Đặng Thu Kỷ, NXB Y học 1984....