12 KINH BIỆT

Thứ tư - 28/10/2026 02:55
Ngoài những đường lưu thông chủ yếu mà đã cấu tạo thành một khối chỉnh thể tuần hoàn như đã nói trên ra, thì kinh biệt là một bộ phận đi riêng biệt của 12 đường kinh, nhưng nó lại khác với lạc mạch, vì thế nó là < đường đi riêng rẽ của chính kinh > gọi tắt là < kinh Biệt >.
Theo đường thông vận của kinh biệt để xét về tác dụng sinh lý của nó, ta thấy: một là: nó vượt ra ngoài mối quan hệ phối hợp trong ngoài lẫn nhau của sáu kinh âm với sáu kinh dương. Căn cứ thiên Kinh biệt sách Linh khu gọi là < lục hợp > ( Túc thái dương với Thiếu âm, dưới thì hợp ở khoeo chân, trên thì hợp ở sau gáy; Túc thiếu dương với Quyết âm cùng hợp với nhau ở chỗ lông mu; Túc dương minh với Thái âm cùng hợp với nhau ở háng; Thủ thái dương với Thiếu âm hợp với nhau ở đầu con mắt; Thủ thiếu dương với Quyết âm hợp với nhau ở dưới Hoàn cốt; Thủ dương minh với Thái âm hợp với nhau ở cuống họng), đây là nói rõ được hai kinh âm dương của sáu tổ chức phối hợp lẫn nhau, không những do kinh mạch của 12 chính kinh phát sinh ra quan hệ là và giao tiếp lẫn nhau ở chỗ tạng phủ với tay chân, mà ở bộ vị khác cũng còn có kinh biệt phát sinh ra quan hệ cùng phối hợp ấy nữa. Hai là nêu lên được đường thông trong thân thể với tạng phủ của mười hai kinh mạch càng chặt chẽ hơn ở tổ chức tay chân. Căn cứ vào chỗ khởi hành và chỗ đứng lại của mười hai kinh biệt mà xét, thì thấy phần nhiều là bắt đầu từ khuỷu tay và đầu gối trở lên đi qua thân mình, tạng phủ lên đến đầu, mặt, cổ, gáy, rồi nhập lại với kinh mạch của các dương kinh. Do đó óc thể biết rõ được mười hai kinh ở thân minh với tạng phủ không những chỉ dựa vào sự sở thuộc, liên lạc, quán thông, và lưu chú của kinh mạch, đồng thời còn dựa vào sự ra, vào, ly, hợp của kinh biệt nữa. Về sự phân bố và quan hệ lẫn nhau đó so với tay chân càng phức tạp hơn. Nói một cách khác, là sự hoạt động về sinh lý rất phức tạp của bộ vị sâu trong thân mình và tạng phủ không những là do mười hai kinh mạch và một bộ phận kỳ kinh làm chủ tể, mà còn có mười hai kinh biệt cũng tham gia vào sự hoạt động phức tạp ấy. Ba là nói rõ được phạm vi hoạt động về sinh lý của mười hai kinh, có một số bộ vị không phải đường thống của mười hai kinh mạch đi đến, mà là tác dụng của mười hai kinh biệt đi đến. Một điểm đặc biệt của sáu kinh âm cũng đều có tác dụng ở bộ phận đầu mặt, nếu chỉ đem bộ vị tuần hành của mười hai kinh mạch nói ở trên mà xét, thì trong sáu kinh âm trừ kinh mạch Túc quyết âm có thể lên đến đỉnh đầu ra, còn năm kinh mạch âm kia đều chỉ đi đến cổ họng là đứng lại. Nhưng sau khi kinh biệt của sáu âm kinh đã đi đến đầu, mặt, cổ họng rồi lại cũng đều hội hợp với kinh biệt của sáu dương kinh mà nhập vào kinh mạch sáu dương kinh. Nói ngược lại kinh mạch của sáu dương kinh ở trên đầu mặt, đã nhận lấy khí huyết của kinh biệt sáu âm kinh giao cho, do đó mới có thể hiểu được lý lẽ sáu âm kinh cững có thể có tác dụng ở đầu và mặt.
 Chính vì giữa khoảng âm kinh và dương kinh, có sự quan hệ mật thiết, cho nên trong khi lâm sàng, nếu thấy dương kinh nào bị bệnh, có thể chữa ở âm kinh cùng biểu lý với nó, âm kinh nào đó bị bệnh, có thể chữa ở dương kinh cùng biểu lý với nó, thí dụ như: chữa chứng đau đầu, có khi châm huyệt < Hợp cốc > là huyệt của kinh Thủ dương minh, có khi châm huyệt < Liệt khuyết > là huyệt của kinh Thủ thái âm.Đương nhiên căn cứ vào tính chất của bệnh và chứng hậu cùng phát ra, lại cần phải lấy huyệt của bản kinh làm chủ yếu. Tuy trong thiên Kinh biệt sách Linh khu không ghi chép bệnh hậu, nhưng theo bệnh hậu chép ở thiên Kinh mạch, và tổng hợp các chứng hậu của du huyệt mười hai kinh chủ trị mà xét, thì những bộ vị phát bệnh có một số không phải đường kinh mạch có thể đi tới, mà là chỗ kinh biệt đi tới. Do đó có thể biết đường thông vận hành của kinh biệt, cũng đều là phạm vi hoạt động của sinh lý, lại là nơi phản ánh của bệnh lý. Đồng thời cũng có thể hiểu rõ được phạm trù chủ trị của du huyệt một kinh nào đó, đều không đóng khung ở bộ vị tuần hành của kinh mạch, thí dụ như kinh mạch Thủ quyết âm không đạt đến yết hầu. Đó là duyên cơ do đường thống vận hành của kinh biệt của kinh ấy <theo ra đường cuống họng>. Dưới đây xin đem bộ vị tuần hành của mười hai kinh biệt để phân biệt và giới thiệu như sau:
(1) Kinh biệt Túc thái dương và Túc thiếu âm.
Bộ vị tuần hành: Chính kinh của Túc thái dương đi rẽ vào chỗ cong bên trong đầu gối, trong đó có một đường đến chỗ dưới xương cùng năm thốn rồi rẽ vào giang môn, quay  vào trong thuộc với phủ bàng quang, tỏa ra đến thận, theo trong thăn thịt đi lên vùng tim rồi tỏa. Đường đi thẳng của nó từ thăn thịt chạy lên gáy, lại thuộc với kinh mạch Túc thái dương của kinh này, đoạn này là một kinh đi rẽ ngoài kinh mạch Túc thái dương. Chính kinh của Túc thiếu âm đi đến trong chỗ cong đầu gối, cùng chạy rẽ ra họp với kinh Thái dương mà lên đến thận, đúng chỗ đốt xương sống số 14 đi ra thuộc với mạch Đái. Đường đi thẳng của nó đi lên nối với cuống lưỡi, quanh ra sau gáy hợp với kinh Thái dương, đó là một lần hợp ( xem hình 29)


(2) Kinh biệt Túc thiếu dương và Túc quyết âm
Bộ vị tuần hành: Chính kinh của Túc thiếu dương đi quanh háng đến trong lông mu hợp với kinh Túc quyết âm, đường rẽ thì đi vào trong sườn cụt theo lồng ngực, thuộc vào Đởm phủ, đi tản đến can, thông qua bộ phận tâm, đi lên giáp yết hầu, đi ra hàm dưới và phía sau mép, đi tản lên mặt, nối với tia con mắt, rồi hợp với kinh mạch Túc thiếu dương ở đuôi con mắt. Chính kinh của Túc quyết âm từ mu bàn chân đi rẽ ra, lên đến chỗ lông mu cùng với đường rẽ chính kinh của Túc thiếu dương hợp lẫn nhau rồi đi lên, đó là hai lần hợp ( xem hình 30, trang 117)
(3) Kinh biệt Túc dương minh và Túc thái âm.
Bộ vị tuần hành: Chính kinh của Túc dương minh đi lên đến háng rồi đi vào trong bụng, thuộc vào vị phủ, đi tản ra đến tỳ, thông lên tâm, lại theo họng đi ra miệng, lên đến chỗ lõm sống mũi và dưới quầng con mắt, rồi chuyển vào tia con mắt hợp với kinh mạch Túc dương minh. Chính kinh của Túc dương minh hợp lẫn nhau rồi đi lên, kết ở cổ họng, xuyên vào trong lưỡi, đó là ba lần hợp (xem hình 31).


(4) Kinh biệt Thủ thái dương và Thủ thiếu âm.
Bộ vị tuần hành: Chính kinh của Thủ thái dương từ trên đi xuống từ chỗ khớp xương sau vai, đi rẽ vào dưới nách, chạy vào tạng tâm, liên hệ với phủ tiểu tràng. Chính kinh của Thủ thiếu âm, rẽ vào giữa hai đường gân ở trong lõm sâu của nách, thuộc tạng tâm, chạy lên cổ họng, ra ngoài mặt, cùng hợp với mạch nhánh của Thủ thái dương ở chỗ đầu con mắt, đó là bốn lần hợp ( xem hình 32).


(5) Kinh biệt Thủ thiếu dương và thủ Quyết âm
Bộ vị tuần hành: Chính kinh của Thủ thếu dương từ trên đỉnh đầu rẽ vào khuyết bồn chạy xuống Thủ tam tiêu, tản ra giữa ngực. Chính kinh của Thủ quyết âm tâm bào lạc đến chỗ ba tấc dưới huyệt Uyên dịch thì đi rẽ vào giữa ngực, chạy rẽ vào thuộc Tam tiêu, ra đi lên theo cổ họng, ra sau tai, hợp với kinh mạch Thủ thiếu dương ở phía xương hoàn cốt, đó là năm lần hợp ( xem hình 33, trang 119).


(6) Kinh biệt Thủ dương minh và Thủ thái âm
Bộ vị tuần hành: Chính kinh của Thủ dương minh từ trên bàn tay đi lên giữa khoảng bên ngực và vú, đi rẽ vào huyệt Kiên ngung, vào xương sống cổ (Đại chùy), rồi chạy xuống phủ Đại tràng, thuộc tạng phế, lại đi lên cổ họng, ngang chỗ khuyết bồn, ra cùng hợp với kinh mạch Thủ dương minh. Chính kinh của Thủ thái âm, rẽ vào đường trước kinh Thủ thiếu âm ở chỗ huyệt Uyên dịch, chạy ra phế, tản ra mà đến Đại trường, lại đi ra chỗ hỏm vai, theo cổ họng hợp với kinh mạch Thủ dương minh, đó là sáu lần hợp (Xem hình 34,trang 120).




 

Nguồn tin: Trung y học khái luận - Tập 1

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây