NHÂM MẠCH KÈM HUYỆT TRỊ CHỨNG

Thứ tư - 16/09/2026 03:49
Huyệt LIỆT KHUYẾT thuộc kinh Phế
Cách chủ trị: Chủ bụng, ngực, sườn, và bệnh 5 tạng. Tương ứng chủ khách với CHIẾU HẢI.
Trị bệnh ( Tây giang nguyệt): Trĩ, sốt rét, sưng, đi ỉa, đi lỵ, nhỏ ra nước bọt đỏ, đái ra máu, ho có đờm, răng đau, hầu sưng, đi đái khó, tim, bụng, ngực đau, họng nghẹn. Đẻ xong phát cứng không nói, lưng đau, bệnh máu, rốn lạnh, thai chết lưu trong, cách hàn, nhọt vú. Châm LIỆT KHUYẾT có ứng nghiệm ngay.
Phàm chữa các chứng sau đây, trước lấy huyệt LIỆT KHUYẾT làm chủ, thứ mới lấy các huyệt ứng với nó:
  1. Mũi chảy nước hôi, tên là tỵ uyên: Khúc sai, Thượng tinh, Bách hội, Phong môn, Nghinh hương.
  2. Mũi mọc thịt thừa, bí tắc không thông: Ấn đường, Nghinh hương, Thượng tinh, Phong môn.
  3. Thương phong mặt đỏ, phát sốt, đau đầu: Thông lý, Khúc trì, Tuyệt cốt, Hợp cốc.
  4. Thương phong, cảm hàn, ho hắng, ho tức: Chiên trung, Phong môn, Hợp cốc, Phong phủ.
  5. Thương phong, tứ chi phiền nhiệt, đầu đau: Kinh cừ, Khúc trì, Hợp cốc, Ủy trung.
  6. Đau ruột trong bụng, dễ ỉa không dứt ( hạ lợi): Nội đình, Thiên khu, Tam âm giao.
  7. Lỵ trắng đỏ, lạnh đau trong bụng: Thủy đạo, Khí hải, Ngoại lăng, Thiên khu, Tam âm giao, Tam lý.
  8. Hai vú trước ngực sưng đỏ, đau: Thiếu trạch, Đại lăng, Chiên trung.
  9. Nhọt vú sưng đau, trẻ em thối sữa( suy nhũ): Trung phủ, Chiên trung, Thiếu trạch, Đại đôn.
  10. Trong bụng lạnh đau, ỉa chảy không dứt: Thiên khu, Trung quản, Quan nguyên, Tam âm giao.
  11. Đàn bà đau, máu tích, máu thừa không dứt: Can du, Thận du, Cách du, Tam âm giao.
  12. Ho hắng hàn đàm, ngực cách bí đau: Phế du, Chiên trung, Tam lý.
  13. Ho lâu không khỏi, nước bọt có đờm, có máu: Phong môn, Thái uyên, Chiên trung.
  14. Ho hen, khí thúc, đàm khí tỏa thịnh ( vây mạnh): Phong long, Du phủ, Chiên trung, Tam lý.
  15. Hống xuyễn, ngực cách đau cấp: Hoặc trung, Thiên đột, Phế du, Tam lý.
  16. Hống xuyễn, khí tức, phế trướng, không nằm được: Du phủ, Phong môn, Thái uyên, Tam lý, Chiên trung.
  17. Tắc mũi, không biết thơm thối: Nghinh hương, Thượng tinh, Phong môn.
  18. Mũi chảy nước trong, lỗ chân lông không kín, hắt hơi không dứt: Thần đình, Phế du, Thái uyên, Tam lý.
  19. Đàn bà huyết lịch, nước sữa không thông: Thiếu trạch, Đại lăng, Chiên trung, Quan xung.
  20. Đầu vú mọc mụn, tên là đố nhũ: Nhũ căn, Thiếu trạch, Kiên tỉnh, Chiên trung.
  21. Trong ngực nghẹn tắc, đau: Đại lăng, Nội quan, Chiên trung, Tam lý.
  22. Bướu cổ 5 chứng, 5 loại hình - Thạch ảnh ( rắn như đá), Khí ảnh ( mềm như bông), Huyết ảnh ( Như mạch tơ nhỏ), Cận ảnh ( như không có xương), Nhục ảnh ( như cái túi): Phù đột, Thiên đột, Thiên song, Khuyết bồn, Du phủ, Ưng du, Chiên trung, Hợp cốc, Thập tuyên ( châm nặn máu).
  23. Trong mồm sinh mụn, tanh hôi, không thể gần: Thập tuyên, Nhân trung, Kim tân, Ngọc dịch, Thừa tương, Hợp cốc.
  24. Tam tiêu nhiệt cực, trên lưỡi sinh mụn: Quan xung, Ngoại quan, Nhân trung, Nghinh hương, Kim tân, Ngọc dịch, Địa thương.
  25. Mùi hôi ở miệng bốc ra, không thể gần: Thiếu xung, Thông lý, Nhân trung, Thập tuyên, Kim tân, Ngọc dịch.
  26. Cảm thử rất nóng, quặn bụng thổ tả: Ủy trung, Đại chùy, Trung quản, Khúc trì, Thập tuyên, Tam lý, Hợp cốc.
  27. Trúng thử mình nóng, đi tiểu không thông: Âm cốc, Đại chùy, Trung quản, Ủy trung, Khí hải, Âm lăng tuyền.
  28. Trẻ em cấp kinh phong, tay chân co nắm: Ấn đường, Bách hội, Nhân trung, Trung xung, Đại đôn, Thái xung, Hợp cốc.
  29. Trẻ em mạn tỳ phong, mắt nhìn thẳng, chân tay co rúm, miệng sùi bọt: Đại đôn, Tỳ du, Bách hội, Thượng tinh, Nhân trung.
  30. Chứng Tiêu khát ( gồm tiêu bại, tiêu trung, tiêu thận). Tố vấn chép rằng “ Vị phủ hư, ăn cả đấu cũng không đủ bữa. Thận tạng kiệt, uống cả trăm chén không đã khát; và phòng lao không xứng tâm ý, đó là 3 tiêu vậy. Vì thổ táo thừa kiệt, không thể khắc hóa thành bệnh như thế): Nhân trung, Công tôn, Tỳ du, Trung quản, Quan xung, Chiếu hải ( trị uống không đỡ khát), Thái khê ( trị lao không xứng ý, ngủ với đàn bà mà không đã), Tam lý ( trị ăn không đã thèm).
  31. Ỉa chảy đen (mạc sa), bụng đau, đầu nhức, phát sốt, sợ lạnh, lưng, bả vai cứng đau, không thể nằm ngủ: Đại chùy, Thiên phủ, Ủy trung, Thập tuyên.
  32. Ỉa chảy trắng( bạch sa), đau bụng ỉa chảy, tứ chi quyết lạnh, 10 móng tay đen: Đại lăng, Đại chùy, Đại đôn, Thập tuyên.
  33. Cả Bạch sa và Mạc sa, đầu nhức ra mồ hôi, miệng khát, đại trường ỉa chảy ( tiết tả), sợ lạnh, tứ chi quyết lạnh, không thể nằm nghỉ tên là Giao trường sa, hoặc bụng réo, sôi ruột: Ủy trung, Chiên trung, Bách hội, Đan điền, Đại đôn, Khiếu âm, Thập tuyên.
  34. Huyết mê, huyết vậng: Nhân trung.
  35. Ngực, cách bĩ kết: Dũng tuyền, Thiếu thương, Chiên trung, Nội quan.
  36. Rốn bụng đau đớn: Chiên trung, Đại đôn, Trung quản, Thiếu trạch, Thái uyên, Tam âm giao.
  37. Trong tim phiền muộn: Âm lăng tuyền, Nội quan.
  38. Trong tai có tiếng ve kêu: Thiếu xung, Thính hội, Trung xung, Thương dương.
  39. Mũi chảy nước bẩn đục: Thượng tinh, Nội quan, Liệt khuyết, Khúc trì, Hợp cốc.
  40. Thương hàn, phát sốt: Khúc trì, Nội quan, Liệt khuyết, Kinh cừ, Hợp cốc.
Bát pháp trên, trước hết châm huyệt chính theo chứng chung, rồi tùy theo chỗ có bệnh ở trên dưới, phải, trái mà lấy các huyệt ứng khác. Nhưng theo phép môn địa dẫn ( sở đường kinh dẫn khí), và phép ấn để khử trừ, nếu bệnh chưa khỏi, tất cần hợp huyệt, cần phải đình 1 kim ( lưu kim), trì khí, là cho trên dưới tiếp cho nhau, nhanh chóng thấy mất đau đớn, sau đó mới rút kim, hoặc dùng ngải cứu cũng được, tùy từng lúc mà cơ biến, không thể câu nệ riêng ở châm.
( Châm cứu Đại thành, Dương Kế Châu- Lê Văn Sửu dịch)

 

Nguồn tin: Đông y HC tổng hợp

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây