DƯƠNG DUY MẠCH KÈM HUYỆT TRỊ CHỨNG

Thứ ba - 15/09/2026 22:12
Huyệt NGOẠI QUAN thuộc kinh Tam tiêu
Cách chủ trị: Chủ bệnh phong hàn ở kinh lạc, bì phu, tương ứng chủ khách với TÚC LÂM KHẤP.
Trị bệnh ( Tây giang nguyệt): Các khớp, khe đau đớn, đầu gối lạnh, tứ chi bất toại, đầu phong; bả vai, háng, gân, xương trong ngoài, đầu, gáy, chân mày đau, tay chân nóng, tê, mồ hôi trộm, uốn ván, mắt sưng đỏ, thương hàn, tự ra mồ hôi, biểu bì khô. Châm NGOẠI QUAN có ứng nghiệm ngay.
Phàm chữa các chứng sau đây, trước lấy huyệt NGOẠI QUAN làm chủ, thứ mới lấy các huyệt ứng với nó:
  1. Cánh tay sưng đỏ, khe khớp đau đớn: Trửu liêu, Kiêng ngung, Uyển cốt.
  2. Mắt cá trong chân sưng đau, tên gọi là Nhiêu khóa phong: Thái khê, Khâu khư, Lâm khấp, Côn lôn.
  3. Khớp ngón tay đau, không thể co duỗi: Dương cốc, Ngũ hổ, Uyển cốt, Hợp cốc.
  4. Khớp ngón chân đau, không thể bước đi: Nội đình, Thái xung, Côn lôn.
  5. Năm tạng kết nhiệt, thổ huyết không dứt: Lấy du huyệt của 5 tạng kèm với huyệt hội mà chữa ( Tâm du, Tỳ du, Phế du, Can du, Cách du, Vị du).
  6. Sáu phủ kết nhiệt, huyết vọng hành không dứt: Lấy du của 6 phủ kèm thêm huyệt hội mà chữa ( Đảm du, Vị du, Tiểu trường du, Đại trường du, Bàng quang du, Tam tiêu du, Cách du).
  7. Mũi chảy máu không dứt, tên là huyết vọng hành: Thiếu trạch, Tâm du, Cách du, Dũng tuyền.
  8. Thổ huyết, choáng váng, bất tỉnh nhân sự: Can du, Cách du, Thông lý, Đại đôn.
  9. Hư tổn khí nghịch, thổ huyết không dứt: Cao hoang, Cách du, Đan điền, Can du.
  10. Thổ huyết, nục huyết, dương thừa vào âm, huyết nhiệt vọng hành: Trung xung, Can du, Cách du, Tam lý, Tam âm giao.
  11. Huyết hàn cũng nôn, âm thừa vào dương, tên là Tâm Phế nhị kinh ói huyết: Thiếu thương, Tâm du, Thần môn, Phế du, Cách du, Tam âm giao.
  12. Lưỡi cứng, khó nói và sinh rêu trắng: Quan xung, Trung xung, Thừa tương, Tụ tuyền.
  13. Lưỡi nặng sưng, trướng, nhiệt cực khó nói: Thập tuyên, Hải tuyền, Kim tân, Ngọc dịch.
  14. Trong miệng sinh mụn, tên là khô tăng phong: Đoài đoan, Chi câu, Thừa tương, Thập tuyên.
  15. Lưỡi thè lè không rút vào được, tên gọi là dương cường: Dũng tuyền, Đoài đoan, Thiếu xung, Thần môn.
  16. Lưỡi co, khó nói tên là âm cường: Tâm du, Chiên trung, Hải tuyền.
  17. Môi nứt nẻ, chảy máu, căng đau: Thừa tương, Thiếu thương, Quan xung.
  18. Gáy sinh lao hạch, quanh cổ mọc đầy hạch, tên là bàn xà lịch: Thiên tỉnh, Phong trì, Trửu tiêm, Khuyết bồn, Thập tuyên.
  19. Lao hạch mọc lan trước ngực, liền xuống dưới nách, tên là qua tăng lịch: Kiên tỉnh, Chiên trung, Đại lăng, Chi câu, Dương lăng tuyền.
  20. Dưới gốc tai trái sưng hạch, tên là huê đại lịch: Ế phong, Hậu khê, Trửu tiêm.
  21. Gốc tai phải sưng hạch, tên là phong sào lịch: Ế phong, Giáp xa, Hậu khê, Hợp cốc.
  22. Gốc tai sưng đỏ đau: Hợp cốc, Ế phong, Giáp xa.
  23. Cổ gáy sưng đỏ, không tiêu, tên là hạng ung: Phong phủ, Kiên tỉnh, Thừa tương.
  24. Mắt sinh màng mộng, ẩn tắc, khó mở: Tình minh, Hợp cốc, Can du, Ngư vĩ.
  25. Phong toét my mắt, gặp gió chảy nước mắt: Tán trúc, Ty trúc không, Nhị gian, Tiểu cốt không.
  26. Phong mắt sưng đau, thịt lõm đến con ngươi: Hòa liêu, Tình minh, Tán trúc, Can du, Ủy trung, Hợp cốc, Trửu tiêm, Chiếu hải, Liệt khuyết, Thập tuyên.
  27. Răng lợi 2 hàm sưng đau và khớp hàm không mở: Thái uyên, Giáp xa, Hợp cốc, Thái khê.
  28. Mảng răng hàm trên sưng đau và khớp hàm không mở: Thái uyên, Giáp xa, Hợp cốc, Thái khê.
  29. Mảng răng hàm dưới đau, má cổ sưng đỏ, đau: Dương khê, Thừa tương, Giáp xa, Thái khê.
  30. Tai ù, khí bĩ đau đớn: Thính hội, Thận du, Tam lý, Ế phong.
  31. Trong tai hoặc kêu, hoặc ngứa, hoặc đau: Khách chủ nhân, Hợp cốc, Thính hội.
  32. Lôi đầu phong choáng, nôn mửa đờm dãi: Bách hội, Trung quản, Thái uyên, Phong môn.
  33. Thận hư đau đầu, đầu nặng, khó nâng ( Tiền đình, huyết áp rối loạn): Thận du, Bách hội, Thái khê, Liệt khuyết.
  34. Đàm quyết, đầu choáng, đầu mắt mờ mệt ( hôn trầm): Đại đôn, Can du, Bách hội
  35. Đầu đỉnh đau, tên là chính đầu phong: Thượng tinh, Bách hội, Não không, Dũng tuyền, Hợp cốc.
  36. Mắt bạo sưng đỏ, đau đớn: Tán trúc, Hợp cốc, Nghinh hương.
  37. Trúng gió cong co: Trung trữ, Dương trì, Khúc trì, Bát tà.
Bát pháp trên, trước hết châm huyệt chính theo chứng chung, rồi tùy theo chỗ có bệnh ở trên dưới, phải, trái mà lấy các huyệt ứng khác. Nhưng theo phép môn địa dẫn ( sở đường kinh dẫn khí), và phép ấn để khử trừ, nếu bệnh chưa khỏi, tất cần hợp huyệt, cần phải đình 1 kim ( lưu kim), trì khí, là cho trên dưới tiếp cho nhau, nhanh chóng thấy mất đau đớn, sau đó mới rút kim, hoặc dùng ngải cứu cũng được, tùy từng lúc mà cơ biến, không thể câu nệ riêng ở châm.
( Châm cứu Đại thành, Dương Kế Châu- Lê Văn Sửu dịch)
 

Nguồn tin: Đông y HC tổng hợp.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây