12 KINH CÂN
Chuyên Viên
2026-10-28T05:01:12-04:00
2026-10-28T05:01:12-04:00
https://dongyhc.vn/nukeviet/vi/dong-y-hc/tri-lieu-bang-dong-y/12-kinh-can-1318.html
/nukeviet/themes/default/images/no_image.gif
Thuoc dong y
https://dongyhc.vn/nukeviet/uploads/logohc3-2.jpg
Thứ tư - 28/10/2026 02:51
Kinh cân cũng chia ra ba Thủ túc âm kinh và ba Thủ túc dương kinh. Các kinh ấy đi ở chỗ gân thịt ngoài thân thể, vì thế gọi là « kinh cân ».
Đặc điềm chủ yếu của kinh cân, đầu tiên là vượt ra ngoài công năng và tổ chức của hệ thống kinh lạc ở phía ngoài thân thể người ta. Đường vận hành của các kinh cân, phần nhiều ở chỗ chân tay và các đốt xương ngoài thân thể mà không vào trong nội tạng, khác với 12 kinh mạch thì ở cả trong lẫn ngoài và khác với 12 kinh biệt thì chú trọng ở tạng phủ. Đồng thời theo đường đi từ chỗ bắt đầu cho đến cuối cùng của nó mà xét, thì đều là bắt đầu từ đầu chót ngón chân tay đi qua những chỗ đốt xương cổ tay, khuỷu tay, nách, vai, mắt cá, đầu gối, đùi háng, rồi sau đi chia ra ở ngực lưng, cuối cùng đến đầu và mình, khác hẳn với sự bắt đầu và cuối cùng, hoặc lên hoặc xuống của 12 kinh mạch, cũng khác với sự bắt đầu từ khuỷu tay, đầu gối trở lên của 12 kinh biệt. Vả lại, còn có rất nhiều bộ vị của kinh cân đi đến mà kinh mạch và kinh biệt lại không đi đến. Lại xem thứ tự ghi chép trong thiên Kinh cân sách Linh khu, thì nó là lấy ba Thủ túc âm kinh, ba thủ túc dương kinh mà phâu loại; đã nêu bật lên sự quan hệ lẫn nhau giữa mỗi tổ chức của ba kinh. Kinh cân Túc tam dương kết hợp ở xương gò má (chỗ lưỡng quyền); kinh cân Túc tam Âm kết hợp ở bộ sinh dục; kinh cân Thủ tam dương kết hợp ở « Giốc» (chỗ nhọn hai bên đầu); kinh cân Thủ tam âm kết hợp ở « bi» (hông ngực). Như thế là có chỗ khác nhau với 12 kinh mạch thì lấy sự truyền chú của âm, dương, thủ, túc mà thành sự tuần hoàn chỉnh thể cũng khác với 12 kinh biệt thì lấy sự ra, vào, lỵ, hợp của hai kinh biều lý với nhau.
Bệnh hậu của kinh cân phản ánh ra cùng với bộ vị tuần hành của nó cũng là nhất trí, phần nhiều là thuộc về những tật bệnh của gân thịt ở đầu, mình, chân, tay (như chứng tê, v.v...) rất ít khi dinh líu đến bệnh của nội tạng. Vả lại có một số bộ vị của tật bệnh phần ánh ra, vượt khỏi phạm trù kinh mạch và kinh biệt, cùng một tên mà lại là các du huyệt của kinh này chủ trị được. Ví dụ như: huyệt « hợp cốc», « dương cốc» của kinh Thủ dương minh đều có thề chữa chứng đau đầu, như thế là vì kinh cân Thủ dương minh có thể « lên góc trán bên trái, liên lạc với đầu, xuống cằm bên phải ». Vì thế cần phải hiều kỹ càng rành mạch về bộ vi tuần hành và bệnh hậu của 12 kinh cân, thì mới có thể chỉ đạo thực tiễn được tốt hơn. Nay phản biệt giới thiệu như sau:
(1) Kinh cân Túc thái dương
Bộ vị tuần hành: Kinh cân Túc thái dương bắt đầu từ ngón chân út; lên kết ở mắt cá ngoài, đi xiên lên lại kết ở đầu gối; ở phía dưới thì theo mé ngoài chân, kết ở gót, từ gân gót chân đi lên kết ở khuỷu gối; một mạch khác kết ở mé ngoài gót chân đi xiên lên mé trong khoeo chân, hợp với một nhánh trước ở trong khoeo gối đều đi lên kết ở mông đít, lại đi kèm theo xương sống lên đến gáy, rồi chia ra một nhánh rẽ vào trong kết ở cuống lưỡi; một nhánh từ gáy đi thẳng lên kết ở xương chẩm, đi lên đỉnh đầu xuống mặt kết ở mũi, rồi chia nhánh ra chằng chịt ở mi mắt trên, lại đi xuống kết ở lưỡng quyền; lại có một nhánh từ mé ngoài sau lỏm nách kết ở chỗ kiên ngung; lại một nhánh vào mé dưới lỏm nách đi quanh lên chỗ khuyết bồn, rồi đi lên kết ở hoàn cốt sau tại; lại một nhánh từ khuyết bồn đi xiên ra chỗ xương gò má.
Bệnh hậu: bệnh chứng của kinh này là từ ngón chân út đau ran đến gót chân, khuỷu gối co quắp, xương sống uốn ván, gân gáy co rút, vai không cất lên được, chỗ nách đau ran đến chỗ khuyết bồn, đến nỗi không cử động quay trở được (xem hình 35, tr. 122).

(2) Kinh cân Túc thiếu dương
Bộ vị tuần hành: Kinh cân Túc thiếu dương khởi đầu từ ngón chân thứ tư về mé ngón út lên kết ở mắt cá ngoài, đi men lên mé ngoài ống chân kết ở mé ngoài gối; rồi chia ra một nhánh bắt đầu rẽ ở chỗ xương mác chạy lên háng, nhánh ấy đi tách ra đàng trước, kết ở trên chỗ phục thỏ ; còn một nhánh đi về đàng sau kết ở chỗ xương cùng; mạch thẳng đi lên khoảng mềm dưới sườn và sườn cụt, lại đi lên phía trước nách nối với phía bên ngực, vú rồi kết ở chỗ khuyết bồn; nhánh đi thẳng thì lên nách, thông qua khuyết bồn ra phía trước kinh cân Thái dương, theo sau tai quanh lên góc trán, giao ở đỉnh đầu, lại đi xuống chỗ dưới cằm quanh lên kết ở xương gò má chia ra một nhánh kết ở đuôi con mắt, thành dây chẳng ngoài mắt.
Bệnh hậu: bệnh chứng của kinh này là gân ngón chân thứ tư co rút, đau ran đến phía ngoài gối, khớp xương, đầu gối khó co duỗi, gân trong khuỷu gối co rút, phía trước thì đau ran đến háng, phía sau thì đau ran đến xương cùng, và còn đau ran lên cả chỗ mềm ở dưới sườn và sườn cụt; lại đau ran đến gân của cả bộ phận khuyết bồn, bên ngực, vú, cổ, gân bên trái bên phải giao chéo nhau đi lên mặt, khi mà gân bên trái rút gân bên phải, thì mắt bên phải không mở được; đi lên đến góc trán bên phải thì đi ngang với mạch kiểu, vì mạch âm kiểu dương kiểu chằng chéo lẫn nhau ở chỗ ấy. Ví như: gân bên trái là liên lạc ở bên phải, do đó gân ở bên trái bị thương, thì sẽ gây ra hiện tượng chân bên phải không hoạt động được, tình trạng ấy gọi là gân chằng chéo nhau (xem hình 36, trang 123).

(3) Kinh cân Túc dương minh
Bộ vị tuần hành: Kinh cân Túc dương minh, khời đầu từ ba ngón giữa bàn chân (tức là ngón thứ hai, ngón giữa và ngón thứ tư, nhưng nên lấy ngón thứ hai làm chủ, và liên cập đến hai ngón kia) kết ở mu bàn chân, đi xiên ra phía trên mé ngoài, đi trên xương mác, kết ở mé ngoài gối, thẳng lên kết ở chỗ xương hoàn khiêu (vùng háng), đi dọc lên sườn, sườn cụt, thuộc xương sống; đường gân thẳng của nó từ mu bàn chân, lên theo xương ống chân, kết ở dưới gối; chia ra một nhánh kết với xương mác ngoài, hợp với kinh cân Túc thiếu dương; đường thẳng của nó lên theo chỗ phục thỏ, đi lên kết ở háng, tụ hội ở âm khí, lại đi lên tản ra ở bụng, thẳng đến chỗ khuyết bồn thì kết lại, rồi lên cổ, đi tới miệng hợp ở xương gò má; nhánh dưới kết ở mũi, nhánh trên hợp với kinh cân Thái dương. Kinh cân Thái dương chằng chịt ở mi mắt trên, kinh cân dương minh chằng chịt ở mi mắt dưới. Chia ra một nhánh từ má lên kết ở trước tai.
Bệnh hậu: bệnh chứng của kinh này, là từ ngón chân giữa đau ran lên gân xương ống chân, gót chân giật mà cứng đờ, gân chỗ phục thỏ rút lại, trước háng sưng, bìu dái sưng to, trong có máu mủ mà đau (chứng đồi sán), gân bụng co rút, đau ran đến cả hỏm vai và má, đột nhiên miệng méo lệch, về bên bị co rút thì mi mắt không nhắm được; nếu bị nhiệt thì gân duỗi ra mà mắt không mở được; khi gân ở má bị hàn thì co rút, kéo giằng đến má và động cả đến mép; khi bị nhiệt thì gân duỗi ra mà không co lại được, cho nên mới bị méo lệch (xem hình 37, trang 125).

(4) Kinh cân Túc thái âm
Bộ vị tuần hành: Kinh cân Túc thái âm bắt đầu từ đầu chót phía trong ngón chân cái, đi lên kết ở mắt cá trong, thẳng lên liên lạc với xương mác phía trong gối, men lên phía trong đùi, kết ở vế, tụ ở âm khí, rồi lên bụng, kết ở lỗ rốn, lại đi theo trong bụng, lên kết ở sườn, tản ra ở giữa ngực, ở phần trong thì dính với trong xương sống.
Bệnh hậu: Bệnh chứng của kinh này là đau ở ngón chân cái, ran lên đến mắt cá trong, gân rút mà đau, xương mác trong gối đau nhức, đau từ mé trong đùi ran lên cả vế, rồi đau dần lên kết ở chỗ âm khí. Ở phía trên thì đau ran lên rốn, hai bên sườn và sườn cụt và đau lên cả bộ phận ngực và xương sống (xem hình 38, trang 126).

(5) Kinh cân Túc thiếu âm
Bộ vị tuần hành: Kinh cân Túc thiếu âm bắt đầu từ phía dưới ngón chân út, cùng đi với kinh cân Túc thái âm, chạy xiên lên phía dưới xương mắt cá trong, kết ở gót chân, cùng hợp với kinh cân Túc thái dương mà lên kết ở dưới xương mác trong, lại cùng đi với kinh cần Túc thái âm, đi men lên phía trong đùi kết ở chỗ âm khí, theo trong xương sống, kèm với thăn thịt mông đít đi lên gáy, kết ở xương chẩm sau đầu, cùng hợp với kinh cân Túc thái dương.
Bệnh hậu: Bệnh chứng của kinh này là dưới bàn chân rút gân, cho đến những chỗ đi qua và chỗ quy kết của đường kinh đều đau rút gân. Có những bệnh chứng chủ yếu như: bệnh giản, co quắp, bệnh kính, nặng về phía sau lưng thì không cúi ra đẳng trước được; nặng về phía trước (phía ngực bụng) thì không ngửa ra đằng sau được. Lưng là dương, bụng là âm, cho nên phần dương có bệnh thì lưng ngả ra đằng sau mà không cúi được; phần âm có bệnh thì không thề ngửa ra phía sau được (xem hình 39, trang 127).

(6) Kinh cân Túc quyết âm
Bộ vị tuần hành: Kinh cân Túc quyết âm khởi đầu từ trên ngón chân cái, đi lên kết ở trước mắt cá trong, lại đi lên xương ống chân, kết ở dưới xương mác trong gối, đi lên theo mé trong đùi, kết ở âm khí, liên hệ với các gân khác.
Bệnh hậu: Bệnh chứng của kinh này là ngón chân cái đau ran đến trước xương mắt cá trong, chỗ xương mác trong đau nhức, mẻ trong đùi đau nhức rút gần, âm khí vô dung. Nếu phòng sự quá độ bị thương tồn thì liệt dương không cường được. Nếu bị thương phải hàn khí thì âm khí co săn lai; nếu bị thương phải nhiệt khí, thì âm khí dãn hoặc lòi ra, mà không thu lại được (xem hình 40).

(7) Kinh cân thủ thái dương
Bộ vị tuần hành: Kinh cân tủ thái dương bắt đầu từ ngón tay út kết ở cổ tay, men theo mé trong cánh tay dưới, kết ở đằng sau lồi xương trụ về mé trong khuỷu tay. Thầy thuốc lấy ngón tay gõ nắn vào chỗ đó, thì có thể có cảm giác tê tái đến trên ngón tay út. Đường gân ấy đi lên vào phía trong kết ở dưới nách chia ra một nhánh chạy về phía sau lõm nách, đi lên quanh chỗ bả vai theo cổ chạy ra đằng trước kinh cân túc thái dương, kết ở chỗ xương chũm sau tai, lại chia một nhánh chạy vào trong tai, đường đi thẳng thì ra trước tai, lại đi xuống kết ở chỗ cằm, rồi đi lên thuộc vào đuôi con mắt. Nhánh cái đi lên chỗ giáp xa theo trước tai thuộc vào đuôi mắt, lại lên trước trán kết ở góc trán.
Bệnh hậu: Bệnh chứng do gân của kinh này phát ra làm ngón tay út đau nhức, đau ran đến chỗ mé trong lồi xương trụ trong khuỷu tay, đau dồn lên phía trong cánh tay trên, đau vào dưới nách và mé sau nách, đau quanh bả vai kéo giằng đến cổ và cảm thấy có tiếng ù ù và đau ở trong tai, lại đau ran đến cằm, mắt nhắm tịt, một hồi lâu mới có thể mở ra mà nhìn rõ được các vật. Nếu như gân ở cổ căng quá thì có thể làn co quắp căng lên mà thành chứng cân lâu(1), cổ sưng to và nóng lạnh. Bệnh chứng của đường nhánh cái thì dọc đường tuần hành của nó co rút và đau (xem hình 41 trang 130).

(8) Kinh cân Thủ thiếu dương
Bộ vị tuần hành: Kinh cân thủ thiếu dương bắt đầu từ chót ngón tay vô danh về phía bên ngón tay út, đi lên kết ở cổ tay, lên theo cánh tay trước, kết ở chỗ khuỷu tay, lại đi quanh ra mé ngoài bắp tay, đi lên vai chạy đến cổ, hợp với kinh cân thái dương, rồi chia ra một nhánh, ngang chỗ góc hàm đi sâu vào nối với cuống lưỡi; lại một nhánh đi lên chỗ giáp xa, theo trước tai, thuộc vào đuôi mắt lên trán kết ở góc trán.
Bệnh hậu: Bệnh chứng của kinh này là bộ vị tuần hành của nó giằng kéo rút gân và rụt lưỡi ( xem hình 42 trang 132).

(9) Kinh cân Thủ dương minh
Bộ vị tuần hành: Kinh cân Thủ dương minh khởi đầu từ đầu chót ngón tay trỏ về phía bên ngón tay cái, đi lên kết ở cổ tay lên theo cánh tay dưới, kết ở ngoài khuỷu tay, đi lên bắp tay kết ở chỗ kiên ngung , chia ra một nhánh đi qua bả vai, đi kèm hai bên xương sống; đường thẳng thì đi theo chỗ kiên ngung lên đến cổ; chia ra một nhánh, đi lên giáp xa, kết ở chỗ xương gò má đường thẳng ấy đi ra phía trước kinh cân Thủ thái dương, lên góc trán bên trái, liên lạc với đầu, lại xuống chỗ cằm bên phải.
Bệnh hậu: Bệnh chứng của kinh này là ở bộ vị tuần hành của nó giằng kéo đau nhức , rút gân, vai không cất lên được, cổ khó xoay trở, không quay đi quay lại được ( xem hình 43 trang 132).

(10) Kinh cân Thủ thái âm
Bộ vị tuần hành: Kinh cân thủ thái âm bắt đầu từ trên ngón tay cái, theo ngón tay đi lên, kết ở sau trấy tay, đi mé ngoài chỗ thốn khẩu, lên theo cánh tay kết ở trong khuỷu tay, lên phía trong bắp tay, vào dưới nách ra chỗ khuyết bồn, kết ở chỗ khớp xương vai, lại lên kết ở khuyết bồn, xuống kết ở trong ngực, tản suốt đến chỗ bí môn là miệng trên của dạ dày, lại hợp ở bí môn mà xuống đến chỗ sườn cụt.
Bệnh hậu: Bệnh chứng của kinh này là ở bộ vị tuần hành của nó giằng kéo rút gân, đau nặng lắm thì thành chứng tức bôn (1) chỗ sườn và sườn cụt co rút mà thổ huyết (xem hình 44 trang 133)
(1) Tức bôn: Phế khí tích ở dưới sườn, suyễn thở sốc ngược.

(11) Kinh cân Thủ quyết âm
Bộ vị tuần hành: Kinh cân Thủ quyết âm khởi đầu từ ngón tay giữa cùng đi với kinh cân Thủ thái âm, đi lên kết ở mé trong khuỷu tay, lên mé trong cánh tay trên, kết ở dưới nách, đi xuống phân tán ra trước sau, đi dọc sườn và sườn cụt; mạch nhánh của nó đi vào nách mà sau tản ra giữa ngực, kết ở bí môn( vị khẩu)
Bệnh hậu: Bệnh chứng của kinh này là ở bộ vị tuần hành của nó giằng kéo rút gân, đau ran ra phía trước cả đến ngực, thành chứng < tức bôn > ( xem hình 45 trang 134)

(12) Kinh cân Thủ thiếu âm
Bộ vị tuần hành: Kinh cân Thủ thiếu âm bắt đầu từ mé trong ngón út, đi lên kết ở xương trụ sau bàn tay về phía ngón tay út, lên kết ở mé trong khuỷu tay, lại đi lên vào nách, cùng giao với kinh cân Thủ thái âm, đi kèm phía trong vú, kết ở giữa ngực, theo bí môn xuống nối với rốn.
Bệnh hậu: Bệnh chứng của kinh này là ở trong thì co rút sẽ dồn lên dưới tâm mà thành chứng < phục lương > (1), hai tay thì như màng lưới giằng co ở khuỷu tay. Phàm bộ vị tuần hành của kinh này đều giằng kéo rút gân mà đau đớn ( xem hình 46 trang 135).
(1) Phục lương: khí huyết ở tâm kinh tích trệ lại gây lên, dưới tâm trên rốn nổi cục lên.
Nguồn tin: Trung y học khái luận - Tập 1